Theo Deborah M. Consolini, MD, Thomas Jefferson University Hospital
Đánh giá về mặt y tế Thg7 2021
Thăm khám trẻ khỏe nhằm hướng tới những mục tiêu sau:
- Tăng cường sức khoẻ
- Phòng ngừa bệnh thông qua tiêm chủng theo lịch và giáo dục
- Phát hiện và điều trị bệnh sớm
- Hướng dẫn phụ huynh tối ưu hóa sự phát triển cảm xúc và trí tuệ của trẻ
Viện Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) đã đề xuất kế hoạch chăm sóc sức khoẻ dự phòng cho trẻ em không có vấn đề sức khoẻ đáng kể và đang tăng trưởng và phát triển ổn định. Những trẻ không đáp ứng các tiêu chí này nên được thăm khám thường xuyên hơn và tích cực hơn. Nếu trẻ đến khám lần đầu tiên muộn hơn theo kế hoạch hoặc nếu bất kỳ mục đánh giá nào chưa đạt được theo tuổi, trẻ cần đạt được càng sớm càng tốt. Lịch trình được sắp xếp theo độ tuổi:
- Các khuyến nghị về chăm sóc phòng ngừa trong thời kỳ sơ sinh
- Các khuyến nghị về chăm sóc phòng ngừa trong thời thơ ấu và trung học cơ sở
- Các khuyến nghị về chăm sóc phòng ngừa ở tuổi vị thành niên
Trẻ em bị chậm phát triển, có vấn đề về tâm lý xã hội hoặc bệnh mãn tính có thể cần đến thăm khám và điều trị thường xuyên hơn, tách biệt với các lần khám chăm sóc dự phòng.
Nếu người mang thai có nguy cơ cao hoặc nếu làm cha mẹ lần đầu tiên hoặc mong muốn được tư vấn, khám trước sinh với bác sĩ nhi khoa là phù hợp.
Ngoài việc kiểm tra sức khoẻ, bác sỹ phải đánh giá sự phát triển về vận động, nhận thức và xã hội của trẻ và sự tương tác giữa cha mẹ và con cái. Việc đánh giá này có thể được thực hiện bằng cách:
- Hỏi bệnh sử từ bố mẹ trẻ và trẻ
- Quan sát trực tiếp
- Đôi khi tìm kiếm thông tin từ các kênh khác như giáo viên và người chăm sóc trẻ
Công cụ (ví dụ: Modified Checklist for Autism in Toddlers, Revised, with Follow-Up [M-CHAT-R/F]; 1) có sẵn sử dụng để hỗ trợ đánh giá phát triển nhận thức và xã hội.
Cả thăm khám và sàng lọc đều là những phần quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ dự phòng ở trẻ nhũ nhi và trẻ em. Hầu hết các chỉ số, như cân nặng, được đo lường cho tất cả trẻ; các chỉ số khác được thực hiện chọn lọc cho một số các bệnh nhân, như sàng lọc chì ở trẻ từ 1 đến 2 tuổi.
Sổ tay hướng dẫn cũng rất quan trọng đối với việc chăm sóc sức khoẻ dự phòng. Nó bao gồm:
- Chứa đựng các thông tin về trẻ và cha mẹ (thông qua bảng câu hỏi, phỏng vấn, hoặc đánh giá)
- Làm việc với cha mẹ để thúc đẩy sức khoẻ (hình thành một liên minh điều trị)
- Hướng dẫn cha mẹ những gì sẽ xảy ra trong quá trình phát triển của con trẻ, làm thế nào có thể giúp tăng cường phát triển (ví dụ, bằng cách thiết lập một lối sống lành mạnh), và những lợi ích của lối sống lành mạnh là gì?
Tài liệu tham khảo chung
- Frankenburg WK, Dodds JB, Archer P, et al: Denver II: A major revision and restandardization of the Denver developmental screening test. Pediatrics 89(1):91–97, 1992.
Khám thực thể
Tăng trưởng
- Chiều dài nằm (từ đầu-gót) hoặc chiều cao đứng (khi trẻ có thể đứng) và cân nặng nên được đo tại mỗi lần thăm khám. Chu vi vòng đầu phải được đo tại mỗi lần khám trong vòng 36 tháng. Tốc độ tăng trưởng cần được theo dõi bằng cách sử dụng đường cong tăng trưởng với bách phân vị; độ lệch của các tham số này cần được đánh giá .
Huyết áp
- Bắt đầu từ 3 tuổi, huyết áp nên được kiểm tra thường xuyên bằng cách sử dụng băng đo có kích cỡ phù hợp. Độ rộng của băng đo phải bao phủ được ít nhất 2/3 cánh tay, và vòng băng cần được quấn bao quanh 80-100% chu vi cánh tay. Nếu không có băng đo phù hợp, sử dụng băng đo lớn hơn thì tốt hơn.
- Chỉ số huyết áp tâm thu và tâm trương được coi là bình thường nếu chúng < 90 % bách phân vị; các giá trị thực tế cho từng bách phân vị khác nhau tùy theo giới tính, độ tuổi và kích cỡ cơ thể (như chiều cao), do đó cần thiết sử dụng chỉ sô tham chiếu theo các bảng đã được công bố (xem bảng về giá trị huyết áp từ 50 đến 99 bách phân vị đối với nam và nữ, dưới đây). Các chỉ số huyết áp tâm thu và tâm trương nằm giữa 90 và 95 bách phân vị được coi là tăng và nên tiếp tục được theo dõi và đánh giá là một yếu tố nguy cơ của cao huyết áp. Nếu các lần đo liên tục ≥ phân vị thứ 95 nhưng
Đầu
Bất thường phổ biến nhất là dịch trong tai giữa (viêm tai giữa tràn dịch), biểu hiện là sự thay đổi hình dạng của màng nhĩ và mất tính di động của màng nhĩ để phản ứng với áp lực không khí (khi soi tai bằng khí nén). Bác sĩ nên sàng lọc khiếm thính.
Cần kiểm tra mắt ở mỗi lần khám. Bác sĩ nên kiểm tra tất cả những điều sau đây:
- Lác trong hoặc là lác ngoài
- Những bất thường về kích thước nhãn cầu: Gợi ý glaucom bẩm sinh
- Sự khác biệt về kích thước đồng tử, màu mống mắt, hoặc cả hai: Gợi ý Hội chứng Horner, chấn thương, hoặc u nguyên bào thần kinh (đồng tử bất đối xứng có thể là bình thường hoặc biểu hiện của rối loạn mắt, thần kinh tự động hoặc bất thường nội sọ)
- Sự mất hoặc biến đổi của phản xạ đỏ: Gợi ý đục thủy tinh thể hoặc là bệnh u nguyên bào võng mạc
Sụp mi và u mạch máu mí mắt gây giảm thị lực và cần được lưu ý. Trẻ sinh ra ở tuổi thai < 32 tuần nên được bác sĩ nhãn khoa đánh giá bằng chứng về bệnh võng mạc do sinh non và sự phát triển của các tật khúc xạ, thường gặp ở trẻ trong độ tuổi này.
Nên sàng lọc thị lực ở lứa tuổi 4 và 5 tuổi. Trẻ em cũng có thể được sàng lọc lúc 3 tuổi nếu trẻ hợp tác. Ngoài việc thăm khám sức khỏe cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi, sàng lọc dựa trên dụng cụ có thể được sử dụng để đánh giá nguy cơ khi trẻ 12 và 24 tháng tuổi. Có thể sử dụng kiểm tra thị lực bằng biểu đồ Snellen hoặc các máy kiểm tra mới hơn. Các biểu đồ điện tử tốt hơn là hình ảnh; thị lực < 20/30 nên được đánh giá bởi một bác sĩ nhãn khoa.
Phát hiện sâu răng là rất quan trọng và trẻ cần được giới thiệu đến nha sĩ nếu có hiện tượng sâu răng, ngay cả ở trẻ chỉ có răng sữa. Nếu nguồn nước thiếu chất flo, việc bổ sung fluoride bằng đường uống nên bắt đầu khi trẻ được 6 tháng tuổi và được tiếp tục mỗi ngày cho đến khi trẻ 16 tuổi . Đánh răng bằng kem đánh răng có chứa fluoride với liều lượng thích hợp theo từng lứa tuổi được khuyến cáo. Khi trẻ có răng, Trám bọc răng với flo có thể được áp dụng cho tất cả trẻ em từ 3 đến 6 tháng tuổi tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu hoặc trung tâm nha khoa. Các nha sĩ thường bắt đầu nhìn thấy trẻ em khoảng 3 tuổi; sau thời gian này, các bác sĩ lâm sàng có thể đánh giá đơn giản rằng trẻ em và thanh thiếu niên đang được chăm sóc nha khoa thích hợp, bao gồm điều trị bằng fluor nếu cần.
Tim
- Nghe tim được thực hiện để xác định những tiếng thổi mới, tiếng tim bất thường, hoặc rối loạn nhịp; cần phân biệt các tiếng thổi sinh lý lành tính thường gặp với các tiếng thổi bệnh lý . Sờ thành ngực để tìm xung động đỉnh để kiểm tra tim to. Các xung xương đùi được sờ thấy; nếu chúng giảm đi và kết hợp với sự chênh lệch giữa số đo huyết áp chi trên và chi dưới, trẻ có thể bị hẹp eo động mạch chủ.
Bụng
- Sờ bụng cần thực hiện lặp lại ở mỗi lần thăm khám vì các khối u, đặc biệt u Wilms và u nguyên bào thần kinh, có thể chỉ sờ thấy được khi trẻ lớn lên.
- Phân thường được sờ thấy ở góc dưới bên trái.
Cột sống và chi
- Trẻ ở độ tuổi tự đứng được nên được sàng lọc vẹo cột sống bằng cách quan sát tư thế, đầu nhọn bả vai và xương vai đối xứng hai bên, dọc thân, và đặc biệt là sự bất đối xứng hai bên cột sống khi trẻ cúi về phía trước.
- Tại mỗi lần khám trước khi trẻ bắt đầu bước, cần đánh giá loạn sản phát triển của xương chậu. Các nghiệm pháp Barlow và Ortolani được sử dụng cho đến khoảng 4 tháng. Sau đó, loạn sản có thể được gợi ý khi chiều dài chân không đều, co cứng của cơ khép, hoặc bất đối xứng của cơ duỗi hoặc các nếp gấp ở chân.
- Dị tật bàn chân xoay vào trong có thể là hậu quả của kéo vào quá mức của ngón chân cái, xoắn xương chày, hoặc xoắn đùi. Chỉ những trường hợp rõ ràng mới cần điều trị và chuyển trẻ cho thầy huốc chỉnh hình. Bàn chân không cân xứng (ngón chân một bên nghiêng vào trong và ngón còn lại nghiêng ra ngoài - biểu hiện trên bề mặt bất thường) thường đòi hỏi phải đánh giá bởi bác sĩ chỉnh hình.
Khám sinh dục
- Trẻ em gái nên được khám khung xương chậu và làm test Papanicolaou (Pap) vào tuổi 21. Tất cả các bệnh nhân có hoạt động tình dục nên được sàng lọc các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục.
- Cần phải đánh giá tinh hoàn và bẹn bìu ở mỗi lần thăm khám, đặc biệt là phát hiện tình trạng ẩn tinh hoàn ở trẻ trai độ tuổi nhũ nhi và trẻ nhỏ, khối tinh hoàn ở trẻ nam vị thành niên, và thoát vị bẹn ở trẻ trai ở mọi lứa tuổi. Trẻ trai vị thành niên nên được dạy cách tự kiểm tra tinh hoàn của mình để phát hiện các khối bất thường, và trẻ gái vị thành niên nên được dạy cách tự kiểm tra vú.
Phòng ngừa
Tư vấn phòng ngừa là một phần của mỗi lần thăm khám sức khỏe cho trẻ và bao gồm nhiều chủ đề, chẳng hạn như khuyến nghị để trẻ nằm ngửa khi ngủ, phòng ngừa thương tích, tư vấn về dinh dưỡng và tập thể dục, và các cuộc thảo luận về bạo lực, vũ khí và lạm dụng chất kích thích.
An toàn
Các khuyến nghị về phòng ngừa thương tích thay đổi theo độ tuổi. Một số ví dụ sau.
Đối với trẻ từ nhũ nhi từ sau sinh đến 6 tháng tuổi:
- Sử dụng ghế an toàn trẻ em
- Giảm nhiệt độ nước trong nhà đến < 49°C (< 120°F)
- Phòng ngã
- Sử dụng các biện pháp phòng ngừa khi ngủ: Đặt trẻ nằm ngửa, không dùng chung giường, dùng nệm cứng, và không cho phép thú nhồi bông, gối, và chăn trong cũi
- Tránh thức ăn và đồ vật mà trẻ em có thể bị sặc
Đối với trẻ sơ sinh từ 6 đến 12 tháng tuổi:
- Tiếp tục sử dụng ghế an toàn trẻ em
- Tiếp tục đặt trẻ nhũ nhi nằm ngửa khi ngủ
- Không sử dụng xe tập đi cho trẻ
- Sử dụng khóa an toàn trên tủ
- Phòng ngừa ngã từ việc thay đổi bàn và quanh cầu thang
- Theo dõi cẩn thận trẻ khi trẻ ở trong bồn tắm và khi học đi
Đối với trẻ em từ 1 đến 4 tuổi:
- Sử dụng ghế ô tô phù hợp với độ tuổi và cân nặng (trẻ nhũ nhi và trẻ mới biết đi nên sử dụng ghế an toàn trẻ em cho đến khi trẻ vượt quá giới hạn về cân nặng hoặc chiều cao cho việc chuyển đổi với ghế an toàn trẻ em: hầu hết các ghế ô tô có thể chuyển đổi đều có giới hạn cho phép trẻ em ngồi quay mặt về phía sau ≥ 2 tuổi)
- Xem xét an toàn cho người di chuyển gồm cả hành khách và người đi bộ
- Dây buộc cửa sổ
- Sử dụng mũ an toàn và khóa
- Lắp đặt nắp đậy phích cắm ổ cắm
- Phòng ngã
- Không để súng ở nhà
Cho trẻ em ≥ 5 năm:
- Tất cả các khuyến nghị cho trẻ em từ 1 đến 4 tuổi
- Sử dụng mũ bảo hiểm khi đi xe đạp và dụng cụ thể thao bảo vệ
- Hướng dẫn trẻ em đi qua đường an toàn
- Giám sát chặt chẽ khi trẻ bơi lội và đôi khi cần sử dụng áo phao cứu hộ khi bơi
Dinh dưỡng
- Lượng calo dư thừa là nguyên nhân của dịch béo phì ở trẻ em. Khuyến nghị về lượng calo thay đổi theo độ tuổi; dành cho trẻ em đến 2 tuổi, xem Dinh dưỡng ở Trẻ sơ sinh.
- Khi trẻ lớn lên, cha mẹ có thể cho phép trẻ tự quyết định lựa chọn thức ăn, đồng thời giữ chế độ ăn uống trong các thông số khỏe mạnh. Trẻ em cần được hướng dẫn tránh ăn vặt thường xuyên và thực phẩm có nhiều calo, muối và đường. Uống nước có ga và nước trái cây quá mức được coi là nguyên nhân chính gây béo phì.
Tập thể dục
- Không hoạt động thể chất cũng là nguyên nhân của bệnh béo phì ở trẻ em, và những lợi ích của việc tập thể dục trong việc duy trì sức khoẻ thể chất và tinh thần tốt sẽ làm cho cha mẹ chắc chắn rằng con của họ phát triển sớm các thói quen tốt trong cuộc sống. Trong giai đoạn nhũ nhi và trẻ nhỏ, trẻ em nên được phép đi lại và khám phá môi trường an toàn dưới sự giám sát chặt chẽ. Chơi ngoài trời nên được khuyến khích từ giai đoạn nhũ nhi.
- Khi trẻ lớn lên, chơi trở nên phức tạp hơn, trẻ thường xuyên chơi các môn điền kinh chính quy ở trường. Các bậc cha mẹ nên là những tấm gương tốt và khuyến khích chơi các trò chơi cả không chính thống và chính thống, luôn giữ các vấn đề an toàn và khuyến khích thái độ lành mạnh về thể thao và sự cạnh tranh. Tham gia thể thao và các hoạt động như hoạt động trong một gia đình giúp trẻ hoạt động thể thao và mang lại những lợi ích tâm lý và phát triển quan trọng. Sàng lọc trẻ em trước khi tham gia thể thao được khuyến cáo.
- Giới hạn thời gian xem truyền hình, do có liên quan trực tiếp đến sự không hoạt động và béo phì, nên bắt đầu ngay từ sau sinh và cần duy trì suốt tuổi vị thành niên. Các giới hạn tương tự nên được đặt cho các trò chơi điện tử và thời gian chơi trên máy tính khi trẻ lớn lên.
Thông tin thêm
Sau đây là các tài nguyên tiếng Anh có thể hữu ích. Vui lòng lưu ý rằng VUIKHOE247 không chịu trách nhiệm về nội dung của các tài nguyên này.
- Bright Futures/American Academy of Pediatrics (AAP): Recommendations for preventive pediatric health care, 2021
- Centers for Disease Control and Prevention (CDC): Recommended child and adolescent immunization schedule for ages 18 years or younger, United States, 2021
- Modified Checklist for Autism in Toddlers, Revised, with Follow-Up (M-CHAT-R/F)
- AAP: Media and children communication toolkit
Nguồn msdmanuals.com
Mọi thông tin trên website chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa. Vui lòng không tự ý áp dụng, nếu không có sự đồng ý của bác sĩ điều trị.