Thủy đậu (varicella) và zona (herpes zoster) là do virut varicella-zoster; thủy đậu là giai đoạn xâm lấn cấp tính của virut, và bệnh zona biểu hiện sự tái hoạt động của giai đoạn tiềm ẩn.
Vắc xin Haemophilus influenzae loại b (Hib) giúp ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng do Haemophilus nhưng không phải các bệnh nhiễm trùng do các chủng vi khuẩn H. influenzae khác gây ra. H. influenzae gây nhiều nhiễm trùng ở trẻ em, bao gồm bệnh nhiễm trùng máu, viêm màng não, viêm phổi, viêm xoang, viêm tai giữa và viêm thanh quản.
rVSV-ZEBOV là vắc xin duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để phòng ngừa bệnh do vi rút Ebola. Ad26.ZEBOV/MVA-BN-Filo là sự kết hợp của hai loại vắc xin, Ad26.ZEBOV và MVA-BN-Filo và đã có Giấy phép lưu hành sản phẩm của Ủy ban Châu Âu (EC). Nhóm Điều phối Quốc tế (ICG) về Cung cấp Vắc xin đã thiết lập một kho dự trữ vắc xin Ebola toàn cầu ở Thụy Sĩ để sử dụng trong các đợt bùng phát dịch.
Vắc-xin chứa độc tố bạch hầu, độc tố uốn ván và ho gà giúp bảo vệ chống lại bạch hầu, uốn ván và ho gà, nhưng họ không ngăn chặn tất cả các trường hợp.
Vắc xin COVID-19 cung cấp sự bảo vệ chống lại COVID-19, căn bệnh do nhiễm vi rút SARS-CoV-2 gây ra. Tiêm vắc xin là chiến lược hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh nặng và tử vong do nhiễm SARS-CoV-2 với các biến thể gần đây và đang lưu hành là Delta và Omicron.
Vắc-xin là sự bất hoạt hoạt động toàn phần của vi khuẩn hoặc vi rút (sống hoặc giả độc lực) hoặc một phần không gây bệnh của vi khuẩn và vi rút. Đối với vắc-xin có tại Hoa Kỳ.
Theo dữ liệu thống kê này, riêng năm 2021, Việt Nam có hơn 250.000 trẻ em đã bỏ lỡ một hoặc nhiều liều vắc xin phòng bệnh bạch hầu, ho gà và uốn ván (DPT) trong chương trình tiêm chủng thường xuyên. Số trẻ này đã tăng khoảng bốn lần so với năm 2019 - trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát.
Thống kê của Bộ Y tế cho thấy ca mắc COVID-19 đang tăng nhẹ, hiện còn hơn 50 bệnh nhân nặng đang thở oxy, thở máy; Châu Âu đặc biệt quan ngại về nguy cơ làn sóng mới của dịch COVID-19 trong mùa Đông ở khu vực này...
Mất trí nhớ là mất khả năng nhớ lại một phần hoặc toàn bộ những trải nghiệm trong quá khứ hoặc không có khả năng lưu giữ những ký ức mới sau sự kiện gây ra những ký ức đó. Nó có thể là hậu quả của chấn thương sọ não, thoái hóa, bệnh lý chuyển hóa, động kinh hoặc rối loạn tâm lý. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng nhưng thường bao gồm trắc nghiệm thần kinh tâm lý và chẩn đoán hình ảnh thần kinh (ví dụ: CT, MRI). Điều trị theo nguyên nhân
Mất nhận thức là hiện tượng không có khả năng xác định một vật thể bằng cách sử dụng một hoặc nhiều giác quan. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, thường bao gồm các test đánh giá thần kinh tâm lý, đi kèm các phương tiện chận đoán hình ảnh thần kinh (ví dụ: CT, MRI) để xác định nguyên nhân. Tiên lượng phụ thuộc vào bản chất và mức độ tổn thương và tuổi của bệnh nhân. Không có điều trị đặc hiệu, nhưng liệu pháp ngôn ngữ và nghề nghiệp có thể giúp bệnh nhân bù trừ lại phần nào chức năng đã mất.
Thùy trán, thùy thái dương, thùy đỉnh và thùy chẩm bao phủ gần hết bề mặt não ; thùy đảo nằm ở sâu dưới rãnh Sylvian. Thùy viền (hệ viền) là một khu vực hình chữ C ở sát bờ phía trong của mỗi bán cầu đại não; nó bao gồm một số phần của các thùy lân cận.
Suy giảm nhận thức do mạch máu và sa sút trí tuệ là tình trạng suy giảm nhận thức cấp tính hoặc mạn tính do nhồi máu não cục bộ hoặc nhồi máu não lan tỏa thường liên quan đến bệnh mạch máu não.
Nguyên nhân thường là tăng huyết áp. Các triệu chứng điển hình bao gồm thiếu sót thần kinh khu trú, thường khởi phát đột ngột đau đầu, buồn nôn, và suy giảm ý thức. Chẩn đoán bằng CT hoặc MRI.
Một cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA) là sự thiếu máu cục bộ não gây ra thiếu sót thần kinh đột ngột, thoáng qua và không kèm theo nhồi máu não vĩnh viễn (nghĩa là, kết quả âm tính trên MRI xung khuếch tán).
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ là các triệu chứng thần kinh đột ngột do thiếu máu não cục bộ gắn liền với nhồi máu não vĩnh viễn (ví dụ, các kết quả dương tính trên MRI xung khuếch tán).