Theo Josephine Elia, MD, Nemours/A.I. duPont Hospital for Children
Đánh giá về mặt y tế Thg4 2021
Rối loạn lo âu lan tỏa là một trạng thái dai dẳng của sự lo lắng gia tăng và được đặc trưng bởi lo lắng, sợ hãi và kinh sợ quá mức. Các triệu chứng cơ thể có thể bao gồm run, đổ mồ hôi, nhiều phàn nàn về cơ thể và kiệt sức. Chẩn đoán dựa vào tiền sử bệnh. Điều trị thường với liệu pháp thư giãn, đôi khi kết hợp với điều trị bằng thuốc.
Triệu chứng và Dấu hiệu
Trẻ bị rối loạn lo âu lan tỏa có lo lắng nhiều và lan rộng, chúng trầm trọng bởi những căng thăng. Những trẻ em này thường khó có thể chú ý và có thể hiếu động và bồn chồn. Họ có thể ngủ kém, đổ mồ hôi quá nhiều, cảm thấy kiệt sức, và phàn nàn về sự khó chịu của cơ thể (ví dụ, đau dạ dày, đau cơ, nhức đầu). Sự gián đoạn đột ngột và đáng kể về thói quen trong đại dịch COVID-19 — chẳng hạn như đóng cửa trường học và cách ly khỏi gia đình, bạn bè đồng lứa, giáo viên, các nhóm văn hóa và tôn giáo — làm tăng tình trạng lo lắng ở gần như tất cả trẻ em. Sống trong không gian hạn chế với các thành viên trong gia đình hàng tuần đến hàng tháng, cha mẹ mất việc làm và sự không chắc chắn chung về tương lai cũng làm tăng căng thẳng .
Tài liệu tham khảo về các triệu chứng và dấu hiệu
1. Coronavirus (COVID-19), Coping With Stress. Centers for Disease Control and Prevention Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh.
Chẩn đoán
- Tiêu chuẩn lâm sàng
GAD được chẩn đoán ở trẻ em và thanh thiếu niên có các triệu chứng lo âu nổi bật và làm suy giảm mà không tập trung đủ để đáp ứng các tiêu chí cho một rối loạn cụ thể như rối loạn lo âu xã hội hoặc rối loạn hoảng sợ. Rối loạn lo âu lan toả cũng là một chẩn đoán thích hợp cho trẻ em có rối loạn lo âu đặc hiệu, chẳng hạn như lo âu chia ly, nhưng cũng có các triệu chứng lo âu đáng kể khác ở trên và ngoài các rối loạn lo âu đặc hiệu.
Các tiêu chí cụ thể bao gồm sự hiện diện của từng tiêu chí sau:
- Lo lắng và lo lắng quá mức khiến bệnh nhân khó kiểm soát
- Các triệu chứng xuất hiện nhiều ngày hơn không trong ≥ 6 tháng
- Các triệu chứng gây ra đau khổ nghiêm trọng hoặc làm suy giảm chức năng xã hội hoặc ở trường
Ngoài ra, các tiêu chí trên phải đi kèm với ≥ 1 trong các điều kiện sau:
- Cảm giác bồn chồn hoặc căng thẳng hoặc bực dọc
- Dễ bị mệt mỏi
- Khó tập trung
- Cáu gắt
- Căng cơ
- Rối loạn giấc ngủ
Đôi khi, GAD có thể bị nhầm lẫn với rối loạn giảm chú ý/tăng hoạt đông (ADHD) vì GAD có thể gây khó khăn cho việc chú ý và có thể dẫn đến kích thích tâm vận động (tức là tăng hoạt động). Tuy nhiên, trong ADHD, trẻ em cũng gặp khó khăn tập trung và cảm thấy bồn chồn khi họ không lo lắng. Một số trẻ có cả ADHD và rối loạn lo âu.
Điều trị
- Liệu pháp thư giãn
- Đôi khi các thuốc chống lo âu, thường là các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI)
Do sự tập trung các triệu chứng đang lan tỏa, nên GAD là thách thức đặc biệt với điều trị bằng liệu pháp hành vi. Tập luyện thư giãn thường thích hợp hơn.
Bệnh nhân có GAD nặng hoặc không đáp ứng với các biện pháp điều trị liệu pháp tâm lý có thể cần đến thuốc giải lo âu. Cũng như những rối loạn lo âu khác, SSRIs xem bảng thuốc điều trị lo âu và rối loạn hành vithường là thuốc được lựa chọn Buspirone đôi khi được sử dụng cho trẻ em không thể dung nạp SSRIs; tuy nhiên nó ít hiệu quả hơn. Buspirone đôi khi được sử dụng cho trẻ em không thể dung nạp SSRIs; tuy nhiên nó ít hiệu quả hơn. Liều khởi đầu cho buspiron là 5 mg uống 2 lần mỗi ngày; liều có thể tăng dần lên 30 mg (20 mg 3 lần/ngày) nếu dung nạp. GI đau thắt hoặc đau đầu có thể là những yếu tố hạn chế trong việc tăng liều.
Những điểm chính
- Trẻ bị rối loạn lo âu lan tỏa có những lo lắng nhiều và lan rộng, chứ không phải là một lo lắng đơn độc, cụ thể.
- Chẩn đoán GAD khi các triệu chứng gây phiền toái đáng kể cho đứa trẻ hoặc làm ảnh hưởng đến chức năng xã hội hoặc hoạt động học tập và đứa trẻ có ≥ 1 triệu chứng đặc trưng (ví dụ, bồn chồn, căng thẳng hoặc bực dọc).
- Liệu pháp thư giãn có thể giúp ích; nếu trẻ có lo lắng nghiêm trọng hoặc không đáp ứng với các can thiệp về trị liệu tâm lý, hãy xem xét các thuốc giải lo âu (tốt nhất là SSRIs).
Nguồn msdmanuals.com
Mọi thông tin trên website chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa. Vui lòng không tự ý áp dụng nếu không có sự đồng ý của bác sĩ điều trị.