Theo Ji Y. Chong, MD, Weill Cornell Medical College
Đánh giá về mặt y tế Thg4 2020
Đột quỵ là một nhóm bệnh không đồng nhất liên quan đến sự gián đoạn đột ngột và cục bộ của dòng máu não gây ra tổn thương thần kinh. Đột quỵ có thể là :
- Thiếu máu cục bộ (80%), điển hình là do huyết khối hoặc cục máu đông gây tắc mạch
- Chảy máu (20%), do vỡ mạch (ví dụ, chảy máu dưới nhện, chảy máu trong não sọ)
Các triệu chứng đột quỵ thoáng qua (điển hình là kéo dài < 1 giờ) mà không có bằng chứng nhồi máu não cấp (dựa trên MRI xung khuếch tán) được gọi là cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA).

Ở Mỹ, đột quỵ là nguyên nhân thường gặp thứ 5 gây tử vong và là nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng khuyết tật thần kinh ở người lớn.
Đột quỵ liên quan đến các động mạch của não, hoặc vòng tuần hoàn trước (các nhánh của động mạch cảnh trong) hoặc vòng tuần hoàn sau (các nhánh của động mạch nền và động mạch đốt sống).
Các yếu tố nguy cơ
Dưới đây là các yếu tố có thể thay đổi được góp phần làm tăng nguy cơ đột quỵ:
- Tăng huyết áp
- Hút thuốc lá
- Rối loạn lipid máu
- Bệnh tiểu đường
- Kháng Insulin
- Béo bụng
- Lạm dụng rượu
- Thiếu hoạt động thể lực
- Chế độ ăn nguy cơ cao (ví dụ: giàu chất béo bão hòa, chất béo chuyển dạng và năng lượng)
- Căng thẳng tâm lý và xã hội (ví dụ, trầm cảm)
- Bệnh tim (đặc biệt là những bệnh lý tạo thuận cho tắc mạch, như nhồi máu cơ tim cấp, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, và rung nhĩ)
- Tăng đông (chỉ đột quỵ do huyết khối tắc mạch)
- Phình mạch trong sọ (chỉ chảy máu dưới nhện)
- Sử dụng một số chất nhất định (ví dụ, cocaine, amphetamines)
- Viêm mạch
Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được bao gồm:
- Đột quỵ trước đó
- Tuổi cao
- Tiền sử gia đình có đột quỵ
- Yếu tố di truyền
Tài liệu tham khảo về yếu tố nguy cơ
- Kernan WN, Viscoli CM, Furie KL, et al: Pioglitazone after ischemic stroke or transient ischemic attack. N Engl J Med 374 (14):1321–1331, 2016. doi: 10.1056/NEJMoa1506930.
Các triệu chứng và dấu hiệu của đột quỵ
Các triệu chứng ban đầu của đột quỵ xuất hiện đột ngột. Các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí nhồi máu .
Triệu chứng bao gồm tê, yếu các chi và mặt đối bên; thất ngôn; lú lẫn; rối loạn thị giác ở một hoặc cả hai mắt (ví dụ, mù một mắt thoáng qua); chóng mặt hoặc mất thăng bằng phối hợp động tác; đau đầu.
Thiếu sót thần kinh được sử dụng để xác định vị trí của đột quỵ (xem bảng Các hội chứng đột quỵ chọn lọc). Đột quỵ vòng tuần hoàn trước thường gây ra các triệu chứng một bên. Đột quỵ vòng tuần hoàn sau có thể gây ra những thâm sót một bên hoặc hai bên và nhiều khả năng ảnh hưởng đến ý thức, đặc biệt khi có liên quan đến động mạch nền.
Đôi khi có thể có rối loạn toàn thân hoặc thần kinh tự chủ (ví dụ, tăng huyết áp, sốt).
Các biểu hiện khác, ngoài các triệu chứng thần kinh, thường gợi ý thể đột quỵ. Ví dụ,
- Đau đầu nặng, đột ngột gợi ý chảy máu dưới nhện.
- Suy giảm ý thức hoặc hôn mê, thường kèm theo đau đầu, buồn nôn, và nôn, gợi ý tăng áp lực nội sọ, có thể xảy ra 48 đến 72 giờ sau đột quỵ thiếu máu não diện rộng và sớm hơn trong đột quỵ chảy máu não; có thể có thoát vị não dẫn đến tử vong.
Các biến chứng
Các biến chứng của đột quỵ có thể bao gồm rối loạn giấc ngủ, lú lẫn, trầm cảm, cơ tròn không tự chủ, xẹp phổi, viêm phổi, và rối loạn nuốt, có thể dẫn đến sặc, mất nước, hoặc thiếu dinh dưỡng. Bất động có thể dẫn đến bệnh lý huyết khối tắc mạch, suy kiệt, mất khối cơ, nhiễm trùng tiết niệu, loét tỳ đè, và co cứng cơ.
Chức năng sinh hoạt hàng ngày (bao gồm cả khả năng đi bộ, nhìn, cảm nhận, nhớ, suy nghĩ và nói) có thể suy giảm.
Đánh giá đột quỵ
Đánh giá nhằm mục đích xác định những vấn đề sau:
- Có hay không có đột quỵ
- Đột quỵ thiếu máu não cục bộ hay chảu máu não
- Có cần điều trị cấp cứu không
- Những chiến lược tốt nhất để dự phòng đột quỵ tái phát là gì
- Phục hồi chức năng có cần hay không và thực hiện như thế nào
Nghi ngờ đột quỵ khi có bất kỳ dấu hiệu sau đây:
- Triệu chứng thần kinh đột ngột tương ứng với tổn thương não ở một diện động mạch chi phối
- Cơn đau đầu nhiều xuất hiện đột ngột
- Hôn mê đột ngột, không giải thích được
- Suy giảm ý thức đột ngột
Đo đường máu tại gường để loại trừ tình trạng hạ đường máu.
Nếu vẫn nghi ngờ đột quỵ, yêu cầu tiến hành ngay chẩn đoán hình ảnh thần kinh để phân biệt đột quỵ thiếu máu não cục bộ và chảy máu não và để phát hiện các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ. CT nhạy với chảy máu trong sọ nhưng có thể bình thường hoặc chỉ có những thay đổi kín đáo trong những giờ đầu của đột quỵ thiếu máu não cục bộ vòng tuần hoàn trước. CT cũng bỏ lỡ một số trường hợp đột qụy vòng tuần hoàn sau. MRI nhạy với chảy máu trong sọ và có thể phát hiện các dấu hiệu đột quỵ thiếu máu não cục bộ bị CT bỏ sót, nhưng CT thường có thể được thực hiện nhanh hơn. Nếu CT không xác định chẩn đoán đột quỵ mà vẫn có nghi ngờ trên lâm sàng, MRI xung khuếch tán thường có thể phát hiện đột quỵ thiếu máu não cục bộ.
Nếu suy giảm ý thức và các dấu hiệu thần kinh khu trú không có hoặc không rõ ràng, cần thực hiện các thăm dò sâu hơn để tìm các nguyên nhân khác.
Sau khi đột quỵ được xác định là thiếu máu não cục bộ hay chảy máu não, các xét nghiệm được thực hiện để xác định nguyên nhân. Bệnh nhân cũng được đánh giá về những tình trạng cấp tính chung (như nhiễm trùng, mất nước, giảm oxy máu, tăng đường máu, tăng huyết áp). Bệnh nhân được hỏi bệnh đánh giá trầm cảm, thường xảy ra sau đột quỵ. Một đội chuyên về nuốt khó sẽ đánh giá nuốt; đôi khi nghiệm pháp nuốt với barium là cần thiết.
Điều trị đột quỵ
- Ổn định
- Tái tưới máu cho một số trường hợp đột quỵ thiếu máu não cục bộ
- Các biện pháp hỗ trợ và điều trị các biến chứng
- Chiến lược dự phòng đột quỵ về sau
Cần ổn định tình trạng bệnh nhân trước khi tiến hành đánh giá toàn diện. Bệnh nhân hôn mê hoặc trơ (ví dụ, Glasgow Coma Score ≤ 8) có thể đòi hỏi hỗ trợ đường thở. Nếu nghi ngờ tăng áp lực nội sọ, theo dõi áp lực nội sọ và các biện pháp giảm phù não có thể cần thiết.
Các phương pháp điều trị cấp tính cụ thể khác nhau tùy thuộc vào thể đột quỵ. Chúng có thể bao gồm tái tưới máu (ví dụ, chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp, tiêu huyết khối, lấy huyết khối cơ học) cho một số trường hợp đột quỵ thiếu máu não cục bộ.
Chăm sóc hỗ trợ, điều chỉnh các tình trạng bệnh đi kèm (ví dụ như sốt, thiếu oxy máu, mất nước, tăng đường máu, đôi khi tăng huyết áp) và phòng và điều trị các biến chứng là rất quan trọng trong giai đoạn cấp tính cũng như giai đoạn hồi phục (Xem bảng Các chiến lược để ngăn ngừa và điều trị các biến chứng đột quỵ); những biện pháp này cải thiện rõ ràng kết cục lâm sàng. Trong quá trình hồi phục, các biện pháp phòng hít phải, huyết khối tĩnh mạch sâu, nhiễm trùng đường tiết niệu, loét tỳ đè và suy dinh dưỡng có thể cần thiết. Các bài tập thụ động, đặc biệt là chân tay bên liệt, và các bài tập thở được bắt đầu sớm để phòng co cứng cơ, suy kiệt, và viêm phổi.
Sau đột quỵ, hầu hết bệnh nhân đều cần phục hồi chức năng (liệu pháp nghề nghiệp và thể chất) để tối đa hóa sự hồi phục chức năng. Một số liệu pháp bổ sung cần thiết (ví dụ, liệu pháp nói, hạn chế nuôi dưỡng thụ động). Để phục hồi, phương pháp tiếp cận đa ngành là tốt nhất.
Trầm cảm sau đột quỵ có thể cần dùng thuốc chống trầm cảm; nhiều bệnh nhân được hưởng lợi nhờ các biện pháp tư vấn.
Thay đổi các yếu tố nguy cơ thông qua thay đổi lối sống (ví dụ, ngừng hút thuốc lá) và điều trị dùng thuốc (ví dụ, tăng huyết áp) có thể giúp trì hoãn hoặc dự phòng đột quỵ tái phát. Các chiến lược dự phòng đột quỵ khác được lựa chọn dựa trên các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân. Đối với dự phòng đột quỵ, các chiến lược có thể bao gồm các phẫu thuật hay thủ thuật can thiệp (ví dụ, phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh, đặt stent động mạch), liệu pháp chống tiểu cầu, và chống đông.
Tài liệu tham khảo về điều trị
- Powers WJ, Rabinstein AA, Ackerson T, et al: 2018 Guidelines for the early management of patients with acute ischemic stroke: A guideline for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke 49 (3):e46–e110, 2018. doi: 10.1161/STR.0000000000000158. Epub 2018 Jan 24.
Nguồn msdmanuals.com
Mọi thông tin trên website chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa. Vui lòng không tự ý áp dụng, nếu không có sự đồng ý của bác sĩ điều trị.